33 Cái Khoái Chí

của Kim Thánh Thán

.

Kim Thánh Thán

 

 

*

 

 

Lời giới thiệu

 

 

Trong cuốn “The importance of Living” của Lâm Ngữ Đường có nhắc lại về “33 Cái Khoái Chí của Kim Thánh Thán (*).”  Đây cũng là bài tản văn nổi tiếng suốt kim cổ của Trung Quốc, được ghi chung trong bài phê bình tuồng Tây Sương ký.  33 đoạn văn nhỏ này cho thấy triết lý sống “duy khoái chí” của Kim Thánh Thán. Ông khám phá cho chúng ta thấy rằng trong cuộc sống này có thể tìm thấy những lúc vui,  khoái chí qua những chuyện thật đơn giản.

 

 

*Bỉ nhân có lẽ thuộc hạng “vô minh (?)” cho nên sau khi đọc và đã nhận thấy hơn một nửa số chuyện (33), đã làm Kim Thánh thán khoái chí, khoái không nổi (thực vô duyên, khoái chỗ nào vậy??)  Ngược lại, bỉ nhân lại rất khoái chí khi đọc thêm về phần thân thế và các giai thoại Kim Thánh Thán?!

 

 

TVG

 

 

*

 

 

  1. Tháng bảy mùa hè, mặt trời ngừng ở giữa trời, không có gió mà cũng không có mây, sân trước sân sau hực lên như lò lửa, không một con chim nào bay lại. Mồ hôi đổ khắp mình, chảy như suối. Cơm dọn sẵn trước mặt mà ăn không được. Bảo trải chiếu để nằm trên đất, nhưng chiếu ướt nhẹp, ruồi bay lại đậu ở cổ ở mũi, đuổi không đi. Đương lúc không biết làm sao thì bỗng mây đen kéo tới, sấm nổ vang như trăm vạn tiếng trống tiếng kèn của đạo quân. Mái nhà nước xối như thác. Mồ hôi ngưng chảy, đất sạch như quét, ruồi bay đi hết, ăn cơm được. Vậy chẳng khoái chí lắm sao?

 

 

  1. Một ông bạn cách biệt mười năm, chiều tối bỗng tới nhà. Mở cửa, vái nhau xong, chưa kịp hỏi han đi đường thuỷ hay đường bộ, cũng chưa kịp mời bạn ngồi ở giường hay ở ghế, vội vào trong bếp, hỏi nhỏ vợ: “Bà có sẵn đấu rượu như bà Đông Pha không?” Vợ vui vẻ gỡ cây trâm vàng đem đi đổi rượu. Tính ra đãi bạn cũng được ba ngày. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Đêm ngồi một mình trong phòng không, đương bực mình vì một con chuột ở đầu giường, sột soạt không biết gậm đồ vật nào hay nhấm cuốn sách nào. Trong lòng nghi hoặc, không biết phải làm sao thì bỗng thấy một chú mèo dữ, đuôi ngoe nguẩy, mắt chăm chú như ngó cái gì. Tôi yên lòng nín thở đợi xem; bỗng nghe kêu chít lên một tiếng nhỏ, con chuột chạy biến đi như gió. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Trước thư trai, chặt các cây hải đường rũ lá và các cây tử kinh để trồng một vài cây chuối. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Đêm xuân uống rượu với vài bạn hào sĩ (kẻ sĩ hào phóng, lãng mạn), tôi đã nửa say, do dự không biết nên uống nữa hay ngừng. Một đồng tử đứng bên, hiểu ý, đem lại một gói trên mười chiếc pháo bông, tôi đứng dậy châm lửa đốt. Mùi lưu hoàng xông vào mũi, vào óc, toàn thân nhẹ nhàng. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Đi chơi ngoài đường thấy hai gã tranh lý với nhau, mắt trợn mặt đỏ, tưởng chừng như không đội trời chung nữa, vậy mà vẫn làm bộ lễ độ, chắp tay đưa lên, khom lưng xuống, miệng đầy những tiếng “chi, hồ” (nghĩa là ngôn ngữ rất nhã nhặn), thao thao bất tuyệt. Bỗng một tráng phu vung tay tiến lại, dõng dạc quát một tiếng, giải tán hai gã kia. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Nghe trẻ đọc thuộc sách làu làu như nước trong bình chảy ra. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Sau bữa cơm, không biết làm gì, dạo chợ, thấy một món đồ nhỏ, muốn mua. Trả giá cũng gần xong, số tiền chỉ còn cách nhau một chút, mà người bán không chịu nhường, cố tranh cho được. Tôi lấy ở trong tay áo ra một vật giá trị cũng xấp xỉ chỗ sai biệt đó, ném xuống quầy cho người bán hàng. Hắn đổi ngay sắc diện, cười cười, chắp tay thưa “Không dám, Không dám.” Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Sau bữa cơm, không biết làm gì, sắp đặt lại một chiếc rương cũ, bỗng thấy hàng chục hàng trăm văn khế cũ mới của những người thiếu nợ. Người còn, kẻ mất, nhưng đều toàn là vô hi vọng đòi lại được tiền. Không cho ai hay, tôi gom lại, châm lửa đốt hết, nhìn lên trời cao không gợn một chút mây. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Một ngày hè, đầu trần chân không, cầm cây dù che nắng, nhìn tráng phu vừa đạp nước vừa hát khúc Ngô. Nước cuồn cuộn đưa lên trắng phau như bạc, như tuyết. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Sáng sớm thức dậy, nghe như có tiếng gia nhân than thở rằng: “Có người nào mới chết ban đêm.” Tôi liền lên tiếng hỏi ai chết đó? Thì chính là một kẻ giảo quyệt mưu mô nhất trong thành. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Một ngày hè, dậy sớm, thấy người ta cưa tre làm ống nước ở dưới một mái che. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Mưa dầm suốt tháng, sáng nằm ở giường không muốn dậy, như người say rượu hoặc đau. Bỗng nghe chim ríu rít mừng nắng. Tôi vội đưa tay vén màn, đẩy mạnh cửa sổ ngó ra, thấy ánh mặt trời long lanh, rực rỡ và cây trong rừng như mới gội. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Ban đêm hình như cảm thấy có người nào đó ở xa nghĩ tới mình, sáng dậy thử lại thăm. Qua cửa sổ ngó vào trong phòng, thấy đúng người đó đương ngồi ở bàn đọc một văn thư. Thấy mình vô, người đó lặng lẽ vái, kéo tay áo bảo ngồi rồi nói: “Bác đã tới đây thì thử đọc văn thư này đi.” Rồi cùng nhau vui cười, cho đến khi ánh mặt trời đã biến hết. Chủ nhân thấy đói, hỏi khách: “Bác cũng đói chứ?” Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Vốn không có ý cất nhà, ngẫu nhiên được một số tiền thì cũng thử cất chơi. Từ hôm đó, không sáng nào, tối nào là không nghe om om bên tai những tiếng kêu thiếu gỗ, thiếu đá, thiếu ngói, thiếu gạch, thiếu vôi, thiếu đinh. Tôi phải chạy khắp nơi kiếm tiền mua thêm, mà trong thời gian đó cũng không thể ở nhà được nữa, cho tới khi an phận chịu cảnh đó vậy. Bỗng một hôm nhà cất xong, tường đã quét vôi, sàn đã lau chùi, cửa sổ đã dán giấy, tranh đã treo. Thợ thuyền về hết, bạn bè tới, chia nhau ngồi. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Đêm đông uống rượu, trời chuyển lạnh dữ, đẩy cửa sổ nhìn ra thấy những nấm tuyết lớn phủ mặt đất tới ba bốn tấc. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Ngày hè, cầm dao bén cắt một trái dưa hấu vỏ xanh bày trên một cái mâm đỏ. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Đã từ lâu muốn làm tì khưu, nhưng khổ nỗi không được công nhiên ăn thịt. Nếu được làm tì khưu, lại được công nhiên ăn thịt thì mùa hè nấu một nồi nước, dùng con dao bén, cao đầu cho sạch. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Có ba bốn mảng phong lở ở chỗ kín, thỉnh thoảng đóng cửa lấy thuốc nóng rửa. Chẳng cũng khoái chí ư!?

 

 

  1. Mở rương ra, vô tình tìm được một bức thư của cố nhân. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Một hàn sĩ lại mượn tiền, nhưng còn ngại ngùng và nói bâng quơ những chuyện đâu đâu; đoán được khổ tâm của bạn, kéo lại chỗ vắng, hỏi cần bao nhiêu; rồi đi vô nhà trong, lấy đủ số ra đưa. Và hỏi bạn có cần về gấp để thu xếp công việc không, nếu không thì ở lại uống vài chén rượu. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Ngồi trong chiếc thuyền nhỏ, gặp gió tốt, khổ nỗi không có buồm để giương cho nó hả. Bỗng thấy một chiếc thuyền lớn tiến vùn vụt như gió. Thử liệng cái móc qua, hi vọng níu được. Không ngờ mà móc trúng, rồi lấy dây đỏi cột vào đuôi thuyền lớn, và ngâm hai câu của Đỗ Phủ:

 

 

Màu xanh làm ta nhớ tiếc núi, màu đỏ bảo ta rằng có cam quít” (“Thanh tích phong loan, hồng tri quất dữu”) rồi vui vẻ phá lên cười. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Từ lâu muốn kiếm một ngôi nhà để ở với một người bạn, nhưng chưa được chỗ vừa ý. Bỗng có người cho hay có một ngôi nhà không rộng lắm, khoảng trên mười gian, cửa ngó ra sông cái, lại thêm cây cối tươi tốt. Giữ người đó lại, ăn cơm xong rồi cùng đi coi nhà, vì cả hai đều chưa biết ngôi nhà ra sao. Vô khỏi cổng, thấy ngay một khoảng đất trống độ sáu bảy mẫu, sau này khỏi lo thiếu dưa, rau. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Xa quê đã lâu mới được về, ngó thấy cửa thành, hai bên bờ sông đàn bà trẻ con đều nói giọng cố hương. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Một đồ sứ đẹp đã bể, không sao gắn lại được. Lật đi lật lại, càng nhìn càng bực mình, không biết làm sao. Bảo giao cho người bếp dùng làm gì thì dùng, miễn là khuất mắt mình đi. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Mình không phải là bực thánh, làm sao không có lỗi. Ban đêm bất giác làm một việc quấy không ai hay, sáng dậy áy náy, thực không an lòng. Bỗng nhớ rằng theo phép Bồ Tát của nhà Phật, hễ không giấu lỗi tức là sám hối rồi; như vậy bèn vui vẻ kể lỗi ra với khách chung quanh, cả thân lẫn sơ. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Nhìn người ta viết chữ triện lớn. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Mở cửa sổ cho ong bay ra. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Làm quan huyện, mỗi ngày cho đánh trống lui hầu. Lúc đó, chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Thấy chiếc diều đứt dây. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Nhìn cảnh đốt đồng. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Trả hết nợ. Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

  1. Đọc truyện “Cầu nhiêm khách” (?) Chẳng cũng khoái chí ư?

 

 

_______________________

Bài Đọc Thêm (Bonus)

 

 

(*) Kim Thánh Thán (Jin Shengtan 金聖歎) sinh năm 1608 (?) mất năm 1661.  Ông có tên thật là Trương Vị, sau đổi thành Kim Nhân Thụy, tự là Thánh Thán, hiệu Côn Bằng Tán Sĩ. Ông sinh vào cuối Minh đầu Thanh, quê quán Ngô huyện thuộc Tô Châu. Ông là nhà văn, nhà phê bình trứ danh của Trung Hoa.

 

 

Tuổi thơ, ông sống trong sự sung túc.  Sau khi cha mẹ mất sớm thì gia cảnh đi xuống. Tính tình ông cuồng phóng vô cương. Sau khi đổi tên thành Kim Nhân Thụy đã đỗ đầu khoa thi, nhưng vì lúc ấy nhà Minh bị diệt nên ông bỏ không ra làm quan, lui về lấy việc đọc và viết sách làm thú.

 

 

Năm Thuận Trị thứ 18 (1661), Thanh triều ra chiếu đến Giang Tô, lệnh các quan từ tuần phủ trở xuống đều phải tới phủ trị. Nhân dịp này hơn trăm tú tài tụ họp để tố cáo những việc thu lương nhũng lạm của viên lệnh huyện Nhậm Duy Sơ. Tuần phủ Châu Quốc Trị cấu kết với Nhậm, bắt giam luôn 18 người cầm đầu bọn thư sinh. Hôm sau các tú tài đến Văn miếu kêu khóc, bị bắt thêm 30 người, trong đó có Kim Thánh Thán. Nhân lúc Giang Nam đang có nạn giặc cướp hoành hành, các tú tài này đều bị khép tội đồng lõa thổ phỉ, lệnh tịch biên gia sản và trảm lập quyết cả bọn. Khi ấy, Kim Thánh Thán chỉ mới  có 53 tuổi.

 

 

Công trình

 

 

Kim Thánh Thán sở học tinh thâm quảng bác. Thạo Dịch lý lại thông kinh Phật, ông thường dùng Phật học để chú thích Nho, Lão; khi bình văn hay chen thêm Thiền lý vào để luận. Thánh Thán phê bình nhiều cổ thư, đề cao Sử ký, Trang Tử, Ly Tao, Đỗ thi, Thủy Hử và Tây Sương“Lục tài tử thư” (nhưng chỉ mới phê bình được hai tác phẩm sau và một phần thơ Đỗ Phủ). Ngoài ra, ông còn bình chú Tả truyện, Đường tài tử thư và nhiều tác phẩm kinh điển khác.

 

 

Thành tựu lớn của Thánh Thán là phê bình văn học, ông tập trung làm sáng tỏ nội dung tư tưởng của tác phẩm, nhân đó bàn rộng ra chính sự, nêu quan điểm xã hội của mình. Ông chỉ trích “tội phản loạn,” cho Thủy hử là có tính ác; nhưng cũng đồng cảm với những tai ách của dân lành, căm ghét tham quan ô lại kéo bè kết đảng hủy hoại triều cương, khiến 108 hảo hán kia phải bất đắc dĩ tìm vào thủy bạc, trở thành anh hùng phản kháng. Bình Thủy hử, ông bài bác ngu trung; phê Tây sương, ông đề cao tự do luyến ái, cho đó là “thiên địa diệu văn.” Ông thu nhận tư tưởng hư vô của Phật giáo, xem vạn sự chỉ là huyễn mộng; tuy nhiên, ông lại đối mặt với thực tế, và siêng năng trứ tác. Trong ông là cả bầu trời mâu thuẫn đối chọi và xâu xé.

 

 

Lối phê bình văn học, phân tích tác phẩm của ông độc đáo. Bình thơ Đường, ông bác bỏ lối kết cấu khai thừa chuyển hợp, đề xướng lối phân bài thơ làm hai “giải” để thưởng thức. Theo lối này, bài bát cú sẽ bị tách thành 2 bài tứ tuyệt độc lập, và tiêu chí ông đưa ra là nếu 2 bài tách ra đó có thể đứng riêng và vẫn liên quan mật thiết nhau mới xứng là thơ hay [1]. Bình Thủy hử, ông có nhiều phát hiện ý tại ngôn ngoại của tác giả, như vạch ra Tống Giang là kẻ gian hùng bá đạo. Bình Tây sương, ông chỉ ra những thủ pháp như “vén mây nẩy trăng,” “lựa khớp lắp mộng,” v..v… Từ đó, ông đề xuất và đúc kết kinh nghiệm trong nghề; người thích viết lách, nếu chịu khó đọc phần bình Tây sương của Thánh Thán có thể thu được nhiều kinh nghiệm quý.

 

 

Không chỉ bình luận, ông còn hiệu đính, cải sửa nguyên tác, biên tập câu cú, khiến tác phẩm trở nên hoàn thiện. Thủy Hử có nhiều chỗ đã được ông biên tập nâng cao như thế. Như ở hồi 22, trong nguyên tác, Võ Tòng khi lên đồi Cảnh Dương uống 5 lượt rượu, mỗi lượt 3 chén, tổng cộng 15 chén rượu. Cho rằng vẫn chưa đủ “đô,” Côn Bằng tán sĩ bèn khui thêm hũ rượu, đãi Võ đô đầu thêm lượt nữa, thành 18 chén. Hoặc ở hồi thứ 25, nhờ ngòi bút nhuận sắc của ông mà cuộc tình vụng trộm của Phan Kim Liên với Tây Môn Khánh trở nên sinh động và kỳ khoái chí hơn hẳn bản gốc. Ông xác định 50 hồi sau của Thủy hử là đâm bang vớ vẩn, bèn thẳng tay cắt bỏ, rồi viết thêm một hồi về giấc mộng kinh hoàng của Lư Tuấn Nghĩa (mơ thấy 108 anh hùng đều bị giết, và giữa trời xuất hiện 4 chữ “Thiên hạ Thái bình”), lấy đó làm hồi kết [2]. Với Tây sương ký, cho rằng quyển 5 của kịch này là ngụy tác, không phải bút pháp của Vương Thực Phủ, ông cũng cắt nốt và lấy chương “Tan mộng” làm hồi kết cho kịch [3].

 

 

Về thơ, ông có tập bản thảo “Trầm Ngâm Lâu thi tuyển” còn được lưu truyền.

 

 

Ảnh hưởng

 

 

Tài bình văn của ông được người đời ngưỡng mộ và truyền tụng. Một bông hoa dại, qua lời bình của Thụy Nhân tiên sinh bỗng như được phun sương giữa nắng, cũng tỏa bảy sắc cầu vồng. Các hiệu sách do đó vay mượn tên ông đề vào sách để nâng tác phẩm thành “Tài Tử Thư,” và bọn phê bình gia cũng đua nhau mô phỏng, nhái bút pháp của thiên tài. Nền phê bình văn học ở Trung Hoa được Lý Trập khai phá, đến Kim Thánh Thán được phát triển thành khuôn mẫu mãi tới đầu thế kỷ XX. Mai Thinh Sơn bình Tỳ bà ký, xưng đó là “Đệ thất tài tử thư”; Mao Tôn Cương cũng mạo danh Thánh Thán để bình Tam quốc diễn nghĩa và gọi đó là “Đệ nhất tài tử thư”; Chi Nghiễn Trai bình Hồng lâu mộng cũng mô phỏng theo lối Thánh Thán bình Tây sương

 

 

Không chỉ trong nước, ảnh hưởng của Kim Thánh Thán còn lan rộng ra cả ngoài nước. Giữa thế kỷ XVIII, bản Thủy hửTây sương của Kim Thánh Thán truyền sang Triều Tiên, được phổ biến rộng rãi. Trước đó, Triều Tiên chưa từng có bình luận tiểu thuyết, thì sang đầu thế kỷ XIX đã có hàng loạt nhà phê bình lẫy lừng: Thạch Tuyền chủ nhân, Phác Thái Tích, Thủy Sơn tiên sinh… Họ đều chịu ảnh hưởng sâu đậm của Kim Thánh Thán, từ phong cách, kỹ thuật cho đến ý tưởng, từ đó mà thể loại phê bình văn học ở Triều Tiên thực sự hình thành. Truyền sang Nhật Bản, Thủy hửTây sương do Thánh Thán bình chú đã tạo nguồn cảm hứng cho Lương Điền Thuế Nham, Giai Xuyên Kỳ Viên, Thanh Điền Đam Tẩu… xuất đầu lộ diện, và trở thành những phê bình gia danh tiếng.

 

 

Địa vị

 

 

Kim Thánh Thán là người đầu tiên khai thác loại văn “Bạch thoại Trung Hoa” [4], ông đề cao giá trị hiện thực của thể văn thông tục này. Nhờ văn tài của ông, nền “Văn học Bạch thoại” ngày càng lớn mạnh và trở nên thông dụng.

 

 

Trong văn học sử Trung Hoa, ông là đệ nhất phê bình gia. Ông bác nghệ đa tài, kiến thức siêu trác. Ngay từ lúc sanh tiền, năm 1659, ông đã được Hoàng đế Thuận Trị thán phục, tôn làm Cổ văn cao thủ. Trong cuộc vận động “Tân văn học” (một phong trào cách tân, đã đặt nền móng cho văn học hiện đại Trung Hoa), Kim Thánh Thán được Hồ Thích tôn làm “Đại quái kiệt” có tầm nhìn trước thời đại. Lâm Ngữ Đường, vốn cũng là một “U Mặc đại sư,” đánh giá Kim là nhà phê bình vĩ đại nhất thế kỷ XVII của chủ nghĩa ấn tượng. Nhưng vì khi phê bình Thủy hử, Thánh Thán cũng không ngần ngại công kích cái ác của bọn hảo hán Lương Sơn, nên bị các học giả đại lục cho là “phản động,” hay là “người phát ngôn của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến.

 

 

Giai thoại

 

 

Kim Thánh Thán tình tình cuồng ngạo quái đản, lại hài hước vô song, vẫn được mệnh danh là “U mặc đại sư.” Hãy thử đọc đôi câu đối của ông:

 

 

– Đề kinh Phật:

 

 

流水今日 Lưu thủy kim nhật.
明月前身 Minh nguyệt tiền thân.
(Ngày nay nước chảy; Kiếp trước trăng soi).

 

 

– Đề thư phòng:

 

 

真讀書人天下少 Chân độc thư nhân thiên hạ thiểu
不如意事古今多 Bất như ý sự cổ kim đa
(Thiên hạ người thật biết đọc sách rất hiếm;
Xưa nay việc không vừa ý lại nhiều)

 

 

Kim chiếm một chiếu ngồi riêng chót vót trong văn học sử, nên có nhiều giai thoại về ông. Những giai thoại này tất nhiên đều là hư cấu, nhưng phần nào khắc họa tính cách ngất ngưỡng của thiên tài.

 

 

– Tương truyền Kim Thánh Thán viếng cảnh Báo Quốc tự ở núi Nga My. Đang đêm, ông bỗng nảy hứng, hỏi trụ trì cho mượn vài quyển kinh đặng ông… bình chơi cho đỡ buồn. Phương trượng bèn ra vế đối, giao hẹn nếu đối được sẽ cho Kim phê kinh. Vế ra rằng:

 

半夜二更半 Bán dạ nhị canh bán.
(Nửa đêm hai canh rưỡi.)
Hóc búa ở chỗ “nửa đêm” cũng là lúc “quá canh hai” (hai canh rưỡi), và 2 chữ “bán” lặp lại ở đầu và cuối vế. Kim đành chịu phép không đối được, phải đi nghỉ sớm.

 

 

Ba năm sau, khi bị án trảm (bị chặt ngang lưng?) lập quyết nhằm tiết Trung Thu. Phút lâm hình, ông bỗng nghĩ ra lời giải của câu đối, rồi ngửa cổ cười sằng sặc, gọi con trai đến dặn dò là mau báo cho trụ trì chùa Báo Quốc rằng ông đã nghĩ ra vế đối lại.  Đó là:

 

 

中秋八月中 Trung thu bát nguyệt trung.
(Trung Thu giữa tháng Tám)
Vừa chỉnh cả ý lẫn lời: “Trung Thu cũng là giữa tháng Tám!

 

 

Chuyện lại kể tiếp rằng, khi thủ cấp ông rơi ra, đao phủ thấy hai bên tai có nhét hai mẩu giấy. Giở ra thì thấy một mẩu đề chữ Hảo 好 (Tốt), mẩu kia là chữ Đông 疼 (Đau), ghép lại thành câu thì là tiếng suýt xoa: “Ui da, đau quá!”  He he!

 

 

Vẫn chưa hết, rằng sau khi ông mất, thấy có di thư để lại cho con. Quan tuần phủ ngờ rằng trong đó thể nào cũng buông lời phỉ báng hay mai mỉa triều đình, dè đâu khi giở ra chỉ thấy vỏn vẹn đôi dòng ngắn ngủi: “Gửi con: Dưa muối mà ăn với đậu vàng thì có vị như là hồ đào, nếu phép này mà được lưu truyền thì ta chẳng còn hận chi nữa.”

 

 

__________

Chú thích

 

 

[1] Lạ một điều, Thánh Thán phê bình 180 bài thơ của Đỗ Phủ, nhưng lại làm lơ bỏ qua, không hề nhắc tới Lý Bạch nửa lời. Phải chăng Kim xem thường thơ Lý? Hay do lẽ đồng thanh tương khắc mà người cuồng ngạo phóng túng khó lòng dung nạp kẻ khác cũng phóng túng cuồng ngạo như mình?

 

[2] Thủy hử có nhiều dị bản, nhưng 300 năm nay, bản có 71 hồi do Thánh Thán nhuận sắc vẫn được xem là bản chính, có giá trị hơn cả. Ở ta, bản dịch Thủy hử do Thánh Thán phê bình được Á Nam Trần Tuấn Khải dịch là bản dịch tài tình nhất. Còn phần 50 hồi bị cắt kia, sau người ta lại cho in thành bộ riêng, gọi là “Hậu thủy hử,” đọc thấy quả thực vô duyên chán ngắt.

 

 [3] Muốn đọc Tây sương do Thánh Thán bình, thì phải chọn bản dịch của nhà thơ Nhượng Tống.

 

[4] “Bạch thoại” là dạng văn viết dựa trên phương ngôn, khác với “Văn ngôn” là dạng văn viết theo lối từ chương. Từ thập niên 1920 trở đi, phương ngôn được công nhận là văn phong tiêu chuẩn cho tất cả những người sử dụng Hoa ngữ.

 

 

______________________________

Tài liệu tham khảo (Hoa ngữ)
Kim Thánh Thán – Cuộc đời và sự nghiệp phê bình văn học (聖歎的生平及其文學批評) của Vương Tịnh Vũ 王靖宇. Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 2004.
Thanh đại danh nhân truyện lược (清代名人傳略) , của Trương Quảng Đạt 張廣達. Thanh Hải Nhân dân xuất bản xã.
Kim Thánh Thán – Chỉ tiếc trong lòng dăm quyển sách (金聖漢“只惜胸前幾本書”) (詩情史意) của Uông Vinh Tổ 汪榮祖. Nxn Giáo Dục tỉnh Giang Tô, 2006.
Trung quốc tiểu thuyết sử lược (中國小說史略)của Lỗ Tấn 魯迅. Nxb Văn Học, Bắc Kinh, 1952.
Tuyển tập nghiên cứu văn học cổ điển (胡適古典文學研究論集)của Hồ Thích 胡適. Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1988.

 

 

Trần Văn Giang (ghi lại)

33 Cái Khoái Chí của Kim Thánh Thán – Trần Văn Giang (ghi lại)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *