Tại sao mình sống tử tế
mà đời vẫn lận đận khổ cực?
.
*
Lời mở đầu
Có bao giờ chúng ta tự hỏi tại sao mình sống tử tế, luôn làm việc thiện tích đức mà đời vẫn lận đận khổ cực? Còn kẻ gian ác ích kỷ lại sống nhởn nhơ giàu sang? Có phải nhân quả bất công hay vì ông trời không có mắt?
Đây là nỗi uất ức thầm lặng của rất nhiều người lương thiện.
TVG
*
Chúng ta càng nhường nhịn, càng bị chèn ép, càng sống tốt lại càng chịu thiệt thòi đến mức muốn buông xuôi vì nghĩ lòng tốt là vô nghĩa. Thế nhưng sự thật không phải như vậy. Nhân quả chưa bao giờ sai; chỉ là chúng ta chưa thấu hiểu cách vận hành của nó. Hôm nay bằng góc nhìn thực tế kết hợp với triết lý Phật học, tôi sẽ nêu ra năm (05) lý do chính may ra sẽ giúp giải nghĩa được sự nghịch lý này.
May ra câu trả lời sẽ thay đổi hoàn toàn sự suy nghĩ và giúp chúng ta cởi bỏ gánh nặng để sống an nhiên và mạnh mẽ hơn.
1. Định nghĩa sai về hạnh phúc / Bản chất của chữ “Sướng” và “Khổ”
Đầu tiên cần thẳng thắn đối diện với một sự thật rằng lý do lớn nhất khiến chúng ta cảm thấy sống tốt mà vẫn khổ là vì chúng ta đang định nghĩa sai về chữ Sướng và chữ Khổ.
Đa số chúng ta hiện nay đều đang nhìn cuộc đời qua một lăng kính vô cùng chật hẹp. Đó là lăng kính của vật chất và sự công nhận, tung hô từ những người xung quanh.
Chúng ta tự làm cho bộ não của mình có một định nghĩa dập khuôn rằng sướng là phải có nhiều tiện nghi vật chất như nhà lầu, xe sang, tiền bạc đầy túi, chức cao vọng trọng; và đi đến đâu cũng phải có người cúi chào ngưỡng mộ. Chính vì mang theo tiêu chuẩn sắp đặt sẵn ấy nên khi bản thân chúng ta dù sống rất tốt, làm lụng vô cùng lương thiện nhưng vẫn chưa đạt được những hào nhoáng bề ngoài như ý; lập tức chúng ta rơi vào bế tắc.
Thế rồi, chúng ta tự cho cuộc đời mình là một tấn bi kịch, là đau khổ, là bất hạnh và kém cỏi hơn người khác; đem sự eo hẹp, thiếu thốn về mặt tài chính ở hiện tại để đánh đồng một cách vô lý với sự thất bại của cả một số phận; rồi từ đó sinh lòng oán trách, than trời trách đất sao bất công với mình.
Chúng ta hoàn toàn quên đi một thực tế: Vật chất suy cho cùng cũng chỉ là công cụ và phương tiện để phục vụ cho sự sinh tồn của con người. Nó chưa bao giờ và không bao giờ là chiếc chìa khóa độc quyền để mở ra cánh cửa của hạnh phúc.
Nếu sự sung sướng hạnh phúc chỉ được đo bằng tiền tài, địa vị thì tại sao thế gian này vẫn có những người đứng trên đỉnh cao danh vọng nhưng bên trong lại trống rỗng, kiệt quệ và tìm cách buông bỏ tất cả.
Khi chúng ta quá tùy thuộc vào cái nhìn, sự đánh giá từ người khác, chúng ta đang tự biến mình thành nô lệ cho những giá trị ảo. Chính sự so sánh thèm khát đó mới là thứ đang ngày đêm gặm nhấm tâm hồn lương thiện của chúng ta
Dưới góc nhìn Phật học, Đức Phật đã chỉ ra bản chất của khổ bắt nguồn từ ba độc tố: Tham, Sân và Si. Khổ không đến từ việc chúng ta có bao nhiêu tiền mà đến từ việc muốn bao nhiêu tiền và tiếc nuối bao nhiêu thứ mình không có.
Bản chất của mọi thứ trên thế gian là vô thường, nghĩa là thay đổi liên tục, không có gì là tồn tại mãi mãi. Tiền bạc, danh vọng hôm nay có thể là của mình, nhưng ngày mai có thể tan biến như bọt biển.
Nếu chúng ta cho là hạnh phúc của mình tùy thuộc những vật chất bên ngoài, chúng ta đang tự cột mình vào vòng xoáy của sự bất an. Hãy nhìn vào thực tế. Người có hàng trăm tỉ bạc chưa chắc đã hạnh phúc nếu đêm nào họ cũng phải uống thuốc ngủ, lo lắng bị lừa gạt, đau đầu vì sợ bị đối thủ hãm hại hoặc chứng kiến cảnh gia đình rạn nứt, con cái tranh chấp tài sản. Lúc đó cái dầu vật chất lại chính là cái nhân gieo xuống cái khổ trong tâm. Đó là lý do Phật giáo gọi việc có tài sản, danh vọng mà thiếu đi sự tỉnh thức chỉ chính là cái xiềng xích bằng vàng. Vàng tuy là lấp lánh nhưng vẫn là xiềng xích giam cầm tự do của con người.
Như vậy, cái Sướng, Hạnh phúc đích thực của một người sống tốt không nằm ở chỗ có tiền nhiều, mà nằm ở sự bình an của tâm hồn. Sống tốt, sống thiện giúp chúng ta xây dựng một tâm thức sạch sẽ. Chúng ta có thể ăn một bữa cơm đạm bạc nhưng nuốt trôi. Đêm đặt lưng xuống giường là có thể ngủ một mạch tới sáng; lòng không thẹn với ai, không sợ hãi tòa án lương tâm, không lo lắng pháp luật sờ gáy. Đó gọi là Vô úy, tức là không sợ hãi. Đó mới là đỉnh cao của sự sung sướng.
Cái Khổ mà chúng ta đang gánh chịu thực ra chỉ là sự thiếu thốn tạm thời về mặt vật chất, là những bài toán kinh tế chưa có lời giải, hoàn toàn không phải là cái khổ trong tâm.
Đừng lấy thước đo hào nhoáng bên ngoài của người khác để làm khổ tâm hồn lương thiện của mình. Khi chúng ta giàu về nhân cách, chúng ta đã sống hạnh phúc hơn rất nhiều người giàu về tiền bạc nhưng nghèo nàn về đạo đức.
Xưa kia có một vị trưởng giả cực kỳ giàu có, tiền bạc ăn ba đời không hết, thế nhưng ông lại mắc một căn bệnh nan y. Đó là bệnh mất ngủ kinh niên. Đêm nào ông cũng trằn trọc lo sợ trộm cướp, lo sợ đối thủ hạm hại, lo sợ kẻ hèn hạ lừa gạt tài sản. Một đêm nọ khi đang đứng trên lầu cao nhìn xuống, ông nghe thấy tiếng ngáy như sấm rền của một người hành khất đang ngủ dưới gầm cầu thang nhà mình. Người hành khất ấy áo quần rách dưới, ban ngày đi ăn xin, ban đêm đặt lưng xuống nền đất lạnh là ngủ một mạch tới sáng, gương mặt vô cùng tự tại.
Vị trưởng giả vừa ghen tỵ vừa uất ức liền hỏi vị thiền sư:
“Tại sao tôi ăn trắng mặc trơn cúng dường làm việc thiện không thiếu mà đêm nào cũng khổ sở? Còn tên ăn mày kia không có một đồng lận lưng lại sướng như tiên như vậy?”
Vị thiền sư mỉm cười bảo:
“Bởi vì anh ta gieo nhân buông xả nên gặt quả bình an. Anh ta không có gì để mất nên tâm không sợ hãi. Còn ông gieo nhân mong cầu tích trữ nên phải gặt quả lo âu. Cái khổ của ông là cái khổ gông còng trong tâm, còn cái khổ của anh ta chỉ là cái lạnh tạm thời của thể xác.”
Nghe tới đây, có thể nhiều người trong chúng ta sẽ suy nghĩ:
“Vậy thì cần gì phải cố gắng nữa? Cứ nghèo như người hành khất kia cho nhẹ đầu. Sống tốt mà nghèo cũng được, miễn là ngủ ngon là sướng rồi.”
Nhưng xin hãy vui lòng tỉnh thức. Ý nghĩa của câu chuyện này không phải là khuyên chúng ta đi lùi, từ bỏ sự cố gắng hay cam chịu cảnh nghèo khó. Nhà Phật chưa bao giờ bảo con người ta phải nghèo mới là tu, cũng không bao giờ ca ngợi sự lười biếng. Ngược lại, một trong những triết lý chính của nhà Phật là sự Tinh tấn, nghĩa là nỗ lực, nỗ lực và nỗ lực không ngừng nghỉ trong cả công việc lẫn cuộc sống.
Cái sai của vị phú hộ không phải là vì ông ấy giàu mà là vì ông ấy bị tiền bạc làm chủ; tâm lúc nào cũng ngập tràn sự tham lam và nỗi sợ hãi mất mát. Còn cái đúng của người hành khất kia là anh ta có cái tâm tự tại nhưng anh ta vẫn có cái khổ của sự thiếu thốn, bệnh tật và bấp bênh khi về già.
Mục tiêu tối thượng của một người sống tốt, sống trí tuệ là phải hướng tới sự Phước huệ Song tu. Nghĩa là chúng ta vừa nỗ lực làm việc kiếm tiền bằng mồ hôi nước mắt chân chính để có một cuộc sống ấm no tức là Phước. Nhưng đồng thời cũng đồng thời phải có trí tuệ để không bị đồng tiền kiểm soát tâm trí. Đó là Huệ.
Một lòng tốt có thực lực tài chính kèm theo bao giờ cũng cứu giúp được nhiều cuộc đời hơn là một lòng tốt nhưng rỗng túi. Vì vậy chúng ta đừng bao giờ từ bỏ sự cố gắng. Hãy cứ làm việc hết mình kiếm tiền một cách tử tế. Nhưng hãy giữ cho tâm mình sạch sẽ, tự tại giống như người hành khất kia. Có tiền thì tốt, không có cũng chẳng sao. Làm được thì vui, mất đi thì làm lại. Tuyệt đối không để vật chất làm chủ linh hồn mình. Đó mới là cái sướng đỉnh cao, là sự giàu có trong bình an.
2. Sự nhầm lẫn giữa “Sống tốt” và “Sự nhu nhược, thiếu giới hạn”
Có một câu chuyện kể như thế này:
Ngày xưa ở một ngôi làng nọ có một con rắn cực kỳ hung dữ. Hễ thấy người đi qua là nó lao ra gầm gừ, cắn xé khiến dân làng ai nấy đều khiếp sợ. Một ngày kia có một vị thiền sư đi ngang qua, ngài đã cảm hóa con rắn, giảng giải cho nó nghe về luật nhân quả và khuyên nó từ nay hãy sống lương thiện, đừng làm tổn thương ai nữa. Con rắn nghe theo, phát nguyện quy y và hứa từ bỏ việc cắn người.
Thế nhưng vài tháng sau, khi vị thiền sư quay trở lại ngôi làng ấy và bàng hoàng thấy con rắn tội nghiệp đang nằm thoi thóp, khắp người đầy vết thương trầy da tróc vẩy. Hóa ra khi dân làng thấy con rắn không còn hung dữ và cắn người nữa, họ không còn sợ nó nữa. Trẻ con trong làng rủ nhau lấy đá ném, lấy gậy đập, lấy đuôi nó kéo lê trên đất để làm trò tiêu khiển.
Con rắn khóc lóc đau đớn hỏi vị thiền sư:
“Thưa thầy, thầy bảo con sống tốt, sống thiện, không được hại người. Tại sao con nghe lời thầy mà đời con lại thê thảm khổ sở thế này?”
Vị thiền sư nhìn con rắn thở dài rồi bảo:
“Ta bảo ngươi sống thiện, không được cắn người, nhưng ta đâu bảo nhà ngươi không được phì hơi, nhe nanh lên để hù dọa họ. Sao ngươi lại để họ chà đạp mình như thế?”
Chúng ta có thấy không? Câu chuyện con rắn chính là hình ảnh phản chiếu cuộc đời của rất nhiều người ngoài đời thực. Chúng ta tự nhận mình sống tốt, sống hiền lành, nhưng thực chất chúng ta đang chịu đựng trong bất lực. Chúng ta không dám từ chối những lời yêu càu, nhờ vả vô lý của đồng nghiệp để họ đùn đẩy hết việc nặng nhọc của họ sang cho mình. Chúng ta chấp nhận bị người thân, bạn bè lợi dụng tiền bạc hết lần này tới lần khác dù trong lòng đang rỉ máu và kiệt quệ tài chính. Chúng ta im lặng chịu đựng sự chèn ép, thao túng tâm lý từ người khác vì sợ họ buồn, sợ họ mất lòng, sợ bị đánh giá là ích kỷ. Chúng ta đang tự quấn cho mình một cái mác người tốt, nhưng bên trong là sự ấm ức, tổn thương và đầy oán hận. Đó là Sống tốt. Nhưng đó là sự nhu nhược vô giới hạn.
Dưới góc nhìn Phật học, lòng tốt chưa bao giờ đồng nghĩa với sự yếu hèn hay cam chịu một cách mù quáng. Sống tốt theo nhà Phật luôn phải đi kèm với hai nền tảng chính. Đó là Giới và Định.
Trước hết chúng ta cần hiểu chữ Giới không đơn thuần là những điều cấm kỵ khô khan trong kinh điển. Ở đời sống, Giới chính là tấm khiên ranh giới. Ranh giới đạo đức và ranh giới cá nhân rõ ràng. Nó định vị cho người khác biết đâu là điểm dừng, đâu là giới hạn. Họ không được phép bước qua để xâm phạm đến tôn nghiêm, năng lượng và cuộc sống của chúng ta.
Nếu chúng ta không tự thiết lập Giới cho mình, chúng ta đang biến bản thân thành một mảnh đất hoang cho bất kỳ ai cũng có thể giẫm đạp. Và để giữ vững được danh giới đó, chúng ta cần có Định.
Định là sự mạnh mẽ, nội lực vững vàng bên trong để chúng ta không bị lung lay trước những lời thao túng tâm lý, không bị nỗi sợ mất lòng hay sợ bị ghét. Lòng tốt của chúng ta bắt buộc phải có răng nanh, phải mang một sự uy nghiêm nhất định để cái xấu cái ác nhìn vào phải e dè, không dám tùy tiện lấn lướt.
Sự thật nghiệt ngã mà ít ai chịu nhìn ra là khi chúng ta im lặng chịu đựng, dung túng cho những hành vi lợi dụng, lừa gạt hoặc đào mỏ của người khác, chúng ta không hề tích được một chút công đức nào cả. Chúng ta tưởng mình đang bao dung, đang bố thí lòng tốt. Nhưng không, thực ra chúng ta đang làm hại họ bằng cách thỏa hiệp với sự quá quắt của họ. Chúng ta đang gián tiếp tưới nước, bón phân cho cái hạt giống tham lam, ích kỷ và ngạo mạn bên trong họ ngày một lớn lên.
Chúng ta tạo cho họ một thói quen xấu rằng là mình cư xử tệ bạc như vậy với người này cũng không sao, họ vẫn sẽ giúp mình thôi.
Trong giáo lý của nhà Phật, điều này được gọi là nuôi dưỡng Ác nghiệp. Vì chúng ta tạo điều kiện để người khác lún sâu vào bùn lầy của tội lỗi, khiến họ vô tư tạo thêm nghiệp xấu với chúng ta và với xã hội. Đó chính là một loại Ác nghiệp mà chính chúng ta cũng phải gánh một phần trách nhiệm.
Nuông chiều cái xấu vì sự hèn nhát của bản thân thì đó là Vô minh, là hại người hại mình, tuyệt đối không phải lòng từ bi chân chính của một người học Phật.
Như vậy, đừng bao giờ biến sự nhu nhược thành tấm bình phong cho lòng tốt. Chúng ta cần phải học cách yêu thương, trân trọng và bảo vệ chính mình trước khi muốn ban phát lòng tốt ra xung quanh. Hãy nhớ rằng thân thể và tâm trí của chúng ta cũng là một dạng sinh mệnh cần được chúng ta đối xử tử tế đầu tiên. Biết từ chối đúng lúc, biết vạch rõ ranh giới với những kẻ thục mạng không làm chúng ta kém đi sự lương thiện. Ngược lại, đó chính là đỉnh cao của sự tình thức và trí tuệ; giúp chúng ta tự cứu cuộc đời mình thoát ra khỏi những bể khổ không đáng có.
3. Tâm lý cầu mong: Làm việc thiện nhưng vẫn chưa buông bỏ cái tham
Trong kinh điển có ghi chép lại cuộc đối thoại giữa Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma và Lương Vũ Đế (梁武帝; 464 – 549), nhà Lương Trung Hoa, một vị vua sùng đạo Phật bậc nhất thời bấy giờ (cuối thế kỷ thứ 5), đủ để làm rõ cho chúng ta về tâm lý này của nhân loại, để xem liệu chúng ta có vấp phải điều tương tự này hay không?
Lương Vũ Đế khi lên ngôi đã dùng rất nhiều quốc khố để xây dựng hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ, đúc chuông tạc tượng, nuôi dưỡng hàng vạn tăng ni và chép hàng ngàn bộ kinh điển. Ai ai cũng ca ngợi nhà vua là bậc đại thiện nhân. Khi gặp tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, Lương Vũ Đế liền hăm hở hỏi với vẻ đầy tự hào:
“Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, xây chùa chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy công đức của trẫm lớn lao tới nhường nào?”
Lương Vũ Đế cứ ngỡ sẽ nhận được lời khen ngợi từ vị cao tăng. Nhưng Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma chỉ nhìn nhà vua và lạnh lùng rối buông vỏn vẹn bốn chữ “Thực vô công đức.” Tức là hết thảy không có công đức gì cả. Câu trả lời đanh thép này như một gáo nước lạnh dội vào niềm kiêu hãnh của nhà vua Lương.
Chúng ta có hiểu tại sao Tổ sư lại nói như vậy không? Bởi vì Lương Vũ Đế làm việc thiện nhưng trong lòng luôn cân đo, đong đếm, luôn chủ tâm nói lên cái tôi của mình. Nhà vua muốn người đời phải ca ngợi mình, muốn ghi danh vào lịch sử và ngầm mong cầu một phước báo to lớn ở kiếp sau để đổi lại những gì mình đã bỏ ra. Đó không phải là làm việc thiện vì lòng từ bi thuần khiết. Đó chỉ là một cuộc mua bán, một sự đổi trác tâm linh đầy tính toán.
Chúng ta hãy thử lại lòng trung thực của mình, nhìn sâu vào chính tâm can của mình xem chúng ta có đang vô tình giẫm phải vết xe đổ của Lương Vũ Đế năm xưa hay không? Chúng ta thường tự hào mình là người tốt nhưng có mấy ai dám tự tin khẳng định lòng tốt của mình là hoàn toàn vô tư không vụ lợi?
Nhiều người trong chúng ta giúp đỡ ai đó một chút công sức, hay cho họ mượn một số tiền, trong lòng đã ngầm khẳng định rằng họ phải mang ơn mình suốt đời, đi đâu cũng phải cúi đầu khen ngợi và tôn sùng mình là người tốt. Chúng ta đi chùa cúng dường vài đồng bạc, phóng sinh vài con chim, con cá nhưng bảng danh sách những điều chúng ta cầu xin ơn trên lại dài rằng rặc. Nào là cầu cho gia đình giàu sang, con cái đỗ đạt, nào là công việc hanh thông, mua may bán đất. Chúng ta đang làm thiện hay chúng ta đang thực hiện một bản hợp đồng thương mại với thần Phật, với vũ trụ.
Chúng ta bỏ ra một chút vốn liếng lòng tốt và rồi ngồi đó cân đo đong đếm, chờ đợi một món hời phước báu khổng lồ quay trở lại với mình ư? Để rồi khi cuộc đời không vận hành theo bản hợp đồng mà chúng ta tự vẽ ra, người chúng ta từng cư mang bỗng quay lưng bạc bẽo, hoặc khi giông bão cuộc đời ập đến khiến công việc làm ăn đồ bể, gia đình lục đục v..v… chúng ta lập tức lật ngược thái độ. Chúng ta sinh lòng oán hận, cay cũ, đứng trước ban thờ hay ngửa mặt lên trời mà oán trách rằng:
“Tại sao tôi sống tốt mặt đời lại bất công với tôi? Tại sao tôi làm thiện mà mãi không sướng?”
Nỗi uất ức đó, giọt nước mắt đắng cay đó thực chất không phải đến từ việc chúng ta bị cuộc đời phản bội mà nó đến từ lòng tham và sự mong cầu bên trong chúng ta không được thỏa mãn.
Chúng ta không khổ vì làm việc thiện, chúng ta khổ vì cái tôi của chúng ta quá lớn, muốn cả thế gian này phải xoay quanh và sùng bái lòng tốt của mình.
Dưới góc nhìn Phật học, việc thiện mà chúng ta đang làm lúc này được gọi là làm “Thiện Chấp Tướng.” Nghĩa là tâm chúng ta hoàn toàn dính mắc chặt chẽ vào hành vi của mình và luôn canh cánh mong cầu một kết quả tương xứng. Chúng ta tưởng rằng mình đang tích tức nhưng thực chất mình vị lại đang dùng lòng tốt như một thứ nhiên liệu để nuôi dưỡng cho cái tôi. Cái bản ngã ích kỷ của mình ngày một to lớn ra. Chúng ta tự xây cho mình một tượng đài của người ban ơn lấp lánh trong tâm thức.
Có một quy luật tâm lý nghiệt ngã rằng chúng ta đặt kỳ vọng càng nhiều, càng mong cầu lớn thì khoảng cách dẫn đến sự thất vọng lại càng ngắn. Bản chất cuộc đời là không bao giờ vận hành theo ý muốn của riêng ai. Khi thực tế diễn ra không như mong đợi, người mà chúng ta từng cưu mang bỗng quay lưng vô ơn, cuộc sống của ta gặp giông bão thì ngay lập tức cái tượng đài người tốt kia cũng sụp đổ theo. Nó kéo theo tâm oán giận, hụt hẫng, tức tối và uất ức tự động nảy sinh.
Chính cái tâm lý cầu mong, đổi chác, xem việc thiện như một thương vụ đầu tư tâm linh này mới là cội nguồn sâu xa biến hành động tốt đẹp của chúng ta thành vũng lầy của sự đau khổ chứ không phải do luật nhân quả bất công hay do ông trời thiên vị ai cả.
Khi chúng ta giang tay giúp đỡ một ai đó, chúng ta phải học cách quên đi trọn vẹn ba điều:
Thứ nhất, quên đi mình là người ban ơn để không sinh tâm kiêu mạn bề trên.
Thứ hai, quên đi người nhận là ai để không nổi sinh tâm phân biệt kẻ thân người sơ, người đáng giúp hay người không đáng giúp.
Thứ ba, quên luôn cả món quà, số tiền hay công sức mình đã bỏ ra để tâm không còn vương vấn hay cân đo đong đếm.
Chúng ta làm việc thiện đơn giản chỉ vì thấy điều đó đúng với đạo lý, thấy người ta khổ thì mình thương như một phản xạ tự nhiên của một trái tim lương thiện. Làm xong là buông xả hoàn toàn, tựa như một bóng chim bay qua mặt hồ; tuyệt đối không lưu lại một chút dấu vết hay sự kể công nào trong tâm trí.
Khi chúng ta làm việc tốt với một cái tâm không mong cầu, chúng ta sẽ không bao giờ biết đến cảm giác bị tổn thương hay bất công. Chúng ta không cần ai phải trả ơn, cũng chẳng cần ông trời phải ban phước ngay lập tức. Lúc đó chúng ta đã tự giải thoát mình khỏi xiềng xích của sự liên lụy. Sự bình an nhẹ nhõm xuất hiện ngay trong khoảnh khắc chúng ta buông tay. Đó chính là phước báo lớn nhất, là cái hạnh phúc đích thực mà không một thứ vật chất nào trên đời này có thể đổi lấy.
4. Một góc nhìn thực tế: Sống tốt nhưng thiếu trí tuệ và đúng cách
Chuyện kể rằng có một bác tiểu phu này nổi tiếng là người hiền lành hay làm, không bao giờ gian lận hay hại ai. Mỗi ngày bác đều dậy từ tờ mở sáng, vào rừng đốn cùi từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn mới gánh cùi ra chợ bán.
Bác làm việc không ngơi nghỉ, đổ biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt. Thế nhưng cuộc đời của gia đình bác vẫn mãi nghèo túng chạy ăn từng bữa. Một ngày nọ, một người bạn đi qua thấy bác đang thở hổn hển cố sức chặt một cây cổ thụ bằng một chiếc rìu đã rì sét và cùn trơ lưỡi. Người bạn liền bảo:
“Sao bác không dừng tay lại một chút, mài lại chiếc rìu rồi hãy chặt tiếp, như vậy sẽ nhanh và đỡ tốn sức hơn không?”
Bác tiểu phu thật thả lắc đầu, quầy quậy đáp:
“Tôi còn bận đi chặt củi để kiếm cơm, nuôi con, nuôi gia đình, thời gian đâu mà dừng lại mài cái rìu.”
Chúng ta có thấy không? Bác tiểu phu ấy là một người vô cùng tốt bụng, vô cùng chăm chỉ, nhưng cuộc đời bác lại mãi luẩn quẩn trong cái nghèo khổ chỉ vì thiếu đi một phương pháp làm việc và sự nhạy bén của trí tuệ.
Bước ra cuộc sống hiện đại ngày nay cũng vậy, có một sự thật phũ phàng mà chúng ta buộc phải ý thức. Luật nhân quả của vũ trụ chưa bao giờ vận hành thay cho các quy luật của nền kinh tế. Nhiều người trong chúng ta rất hiền lành, từ nhỏ đến lớn sống nhường nhịn, chẳng dám làm tổn thương một con kiến. Thế nhưng trong công việc chúng ta lại lười biếng cập nhật kiến thức mới, bám víu vào những lối suy nghĩ cổ hủ, chọn sai những ngành nghề đã bị thời đại đào thải. Chúng ta đi làm với một thái độ đối phó, không chịu trau dổi kỹ năng chuyên môn, lại càng không thèm học cách quản lý tài chính cá nhân. Để rồi khi đồng tiền kiếm được ít ỏi hoặc có bao nhiêu cũng tiêu tán sạch sẽ, chúng ta lại ôm đầu than thân trách phận.
Chúng ta đang nhầm lẫn tai hại giữa các loại hạt giống và quả báo. Khi chúng ta gieo hạt giống của sự lương thiện hiền lành, chúng ta chắc chắn sẽ nhận về quả báo tương xứng là được mọi người xung quanh yêu mến, kính trọng và có một tâm hồn bình an. Cái nhân lương thiện không thể tự động trổ ra cái quả là một tài khoản ngân hàng với nhiều số không.
Nếu chúng ta muốn gạt hái quả báo của sự giàu có, sung sướng và tự do về vật chất, chúng ta bắt buộc phải gieo đúng cái nhân của nó. Đó là sự nỗ lực không ngừng để nâng cao bản thân, là tư duy kinh doanh sắc bén, là phương pháp làm việc thông minh và hiệu quả. Đừng lấy sự hiền lành ra làm cái cớ để lấp liếm cho sự lười biếng của chính mình.
Người có trí tuệ sẽ hiểu rằng muốn hết nghèo khổ về vật chất thì phải gieo đúng cái nhân của sự tinh tấn học hỏi, lao động sáng tạo và quản lý tài chính hiệu quả. Chứ không thể ngồi yên một chỗ, chỉ ăn ở hiền lành rồi cầu mong tiền bạc tự rơi xuống đầu.
Một lòng tốt không có trí tuệ sẽ rất dễ bị kẻ xấu lợi dụng, rất dễ đưa ra những quyết định sai lầm trong kinh doanh, trong các mối quan hệ để rồi tự chuốc lấy thất bại. Sau đó lại quay sang oán hận luật nhân quả.
Khi chúng ta có trí tuệ, chúng ta mới biết cách đặt lòng tốt vào đúng người, đúng thời điểm và đúng phương pháp. Lúc đó lòng tốt của chúng ta mới thực sự tạo ra giá trị lớn để chuyển hóa cuộc đời của chính mình và mang lại lợi ích thiết thực cho chúng sinh xung quanh.
Khi lòng tốt được dẫn đường bởi một tư duy sáng suốt, chúng ta mới có đủ năng lực để tạo ra sự thịnh vượng cho bản thân và giúp đỡ xã hội một cách hiệu quả.
5. Tiến trình của Nhân Quả cần thời gian (Nhân duyên chưa đủ)
Ngày xưa có một nông dân nọ lặn lội đường xa đến gặp một vị thiền sư với vẻ mặt vô cùng thất vọng. Ông ta than thở:
“Thưa thầy, tôi nghe lời thầy giảng. Suốt 3 tháng qua tôi cày quốc chăm chỉ, reo xuống đất toàn những hạt giống quý, lòng không một chút gian dối. Vậy mà tại sao đến nay nhìn lại cánh đồng của tôi vẫn chỉ là một mảnh đất trống không, chẳng có lấy một quả ngọt nào để thu hoạch? Có phải ông trời đã bất công với sự lương thiện của tôi hay không?”
Vị thiền sư mỉm cười dẫn người nông dân ra hiên nhà và chỉ vào một cái cây cổ thụ và hỏi:
“Bác có biết để cây cổ thụ này cho bóng mát và quả ngọt như hôm nay nó đã phải nằm dưới lòng đất bao lâu không? Bác reo trồng xuống rất tốt nhưng bác mới reo có 3 tháng đất chưa kịp chuyển hóa, nước chưa đủ thấm, năng ấm chưa đủ ngày, làm sao cây có thể lớn ngay được. Bác nôn nóng đòi hái quả khi duyên chưa đủ thì cái bác nhận được chỉ có sự thất vọng mà thôi.”
Chúng ta thấy không? Câu chuyện của người nông dân chính là sai lầm của hầu hết chúng ta ngoài đời thực. Chúng ta vừa làm được vài việc thiện, vừa đi chùa cúng dường được vài tháng liền lập tức cầu mong cuộc đời phải đổi thay, phải giàu sang may mắn ngay lập tức. Khi chưa thấy kết quả, chúng ta liền nảy sinh tâm nghi ngờ, chán nản rồi trách móc nhân quả bất công. Công thức tối cao chi phối toàn bộ vũ trụ này không đơn giản chỉ là gieo nhân nào hái quả nấy theo một đường thẳng đơn giản; mà phải là Nhân cộng Duyên bằng Quả.
Việc thiện chúng ta làm hôm nay, tấm lòng tử tế chúng ta trao đi mới chỉ là việc chúng ta đang nắm trong tay một hạt giống cam ngọt. Đó là cái Nhân lành. Thế nhưng để hạt giống ấy có thể phá vỏ, nảy mầm, đơm hoa và kết thành trái ngọt cho chúng ta hái, nó bắt buộc phải đi qua một tiến trình trung gian vô cùng nghiêm ngặt gọi là Duyên. Duyên ở đây chính là dòng chảy của thời gian, là môi trường đất cát, nguồn nước, là ánh nắng mặt trời và là cả sự nỗ lực hành động thực tế của chính chúng ta ở đời thường.
Nếu thiếu đi những yếu tố trợ duyên này, hạt giống dù tốt đến mấy cũng sẽ mãi nằm im trong lòng đất hoặc bị thối nữa là đằng khác. Quy luật tự nhiên quy định rằng không một ai gieo hạt buổi sáng mà có thể đòi chặt cây hái quả vào buổi chiều. Tiến trình của nhân quả cần một khoảng thời gian đủ để chuyển hóa và trưởng thành.
Sự nôn nóng đốt cháy giai đoạn của con người chỉ chứng tỏ chúng ta đang quá vô minh trước quy luật vận hành của vũ trụ. Bên cạnh đó có một thực tế phũ phảng khác, một sự thật nhân quả đa tầng dưới góc nhìn sinh vật học mà chúng ta phải dũng cảm nhìn nhận rằng cuộc đời của một con người chưa bao giờ chỉ bắt đầu và kết thúc ở một kiếp sống này. Trọng dòng chảy luân hồi vô tận từ quá khứ, ai trong chúng ta cũng từng vô tình hay cố ý gieo xuống vô số những hạt giống xấu hay còn gọi là “Ác nghiệp” thông qua những suy nghĩ ích kỷ, lời nói tổn thương hay hành động sai lầm.
Những gì mình đang phải gánh chịu sự bất công ở kiếp này; Cuộc sống hiện tại của chúng ta đang khổ cực, đang lận đận, tình duyên trắc chờ hay sự nghiệp hanh thông bị nghẽn lối. Thực chất là do những món nợ cũ, những Ác nghiệp từ quá khứ đã đủ duyên và đến kỳ phải trổ quả. Việc chúng ta đang cố gắng sống tốt, làm thiện ở hiện tại là chúng ta đang tích lũy thêm những khoản tiền phước báo mới và tài khoản tâm linh của mình.
Luật nhân quả rất công bằng. Khoản tiền mới tích lũy chưa thể lập tức xóa nhòa đi những khoản nợ cũ mà chúng ta đã ký tên từ trước. Chúng ta phải kiên nhẫn, bình thản trả cho xong đống nợ cũ ấy mà không oán than. Khi nào nghiệp cũ tiêu trừ, nợ nần nhân quả được thanh toán sòng phẳng, đồng thời phước báu mới của chúng ta tích lũy đủ ngày, đủ tháng, đủ duyên tròn thì tự khắc quả ngọt sẽ bùng trổ. Vận mệnh của chúng ta sẽ tự động xoay chuyển sang một trang mới huy hoàng và bền vững.
Lời kết
Tóm lại, nhân quả không bao giờ tới muộn, chỉ là duyên chưa đủ tròn mà thôi. Việc thiện chúng ta làm, lòng tốt chúng ta trao đi chưa bao giờ là vô ích. Hãy cứ kiên nhẫn, bình thản gieo nhân lành và chăm sóc nó bằng trí tuệ mỗi ngày. Đừng nôn nóng, đừng oán trách. Khi phước đức đã đủ dày, vận mệnh tự khắc sẽ an bài cho chúng ta một cuộc đời bình an và sung sướng đích thực. Sống tốt chưa bao giờ là vô nghĩa và luật nhân quả chưa từng bỏ quên bất kỳ một ai. Cái khổ chúng ta đang gánh chịu hôm nay không phải là bản án chung thân mà nó chỉ là một trạng thử thách để chúng ta trả nốt những duyên nợ cũ còn lạ.
Đừng vì một vài bất công trước mắt mà buông xuôi lòng tốt. Cũng đừng vì sự sung sướng nhất thời của kẻ ác mà lung lay đức tin và điều thiện. Quả báo chỉ là chuyện sớm muộn.
Xin chúc quý vị luôn khỏe để sống chọn với những điều mình thương, bình yên để lắng nghe lòng mình khi sóng nổi và đủ trí để nhận ra khổ đau cũng là một phần của trường thành. Nguyện cho mỗi ngày của chúng ta đều là những khoảnh khắc bình an, một giây phút tĩnh lặng và một niềm vui nhỏ khiến tim mình thấy đáng sống.
Cư sĩ Ánh Nguyệt
Trần Văn Giang (ghi lại)

