Lịch Sử Nhạc Phẩm
“Việt Nam Việt Nam”
của Phạm Duy
.
*
Mục đích duy nhất bài này là viết lại giai đoạn lịch sử đã thúc giục nhân tài Phạm Duy sáng tác nhạc phẩm Việt Nam Việt Nam, một viên ngọc quý được đa số người Việt yêu thích. Tôi cũng vậy. Tôi đã thưởng thức, trên Internet, nguyên bản hát bằng tiếng Việt, English Version và French Version. Rất nhiều ý kiến đề nghị nên dùng bài này làm Quốc Ca Việt Nam. (Về nguyên do của ý kiến này, xin dộc giả tìm hiểu thêm về tác giả của bài quốc ca hiện tại). Ở đây, tôi xin mạn phép viết một vài ý kiến cá nhân; nhưng không có mục đích khác ngoài việc viết sử.
Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy được sáng tác trong hoàn cảnh nào và mục đích thời kỳ đó là gì? Để hiểu rõ, ta cần biết vài cột mốc trong giai đoạn lịch sử lúc đó:
Ngày 09/03/1945, Nhật đảo chánh Pháp tại Đông Dương, trao độc lập cho các vua Bảo Đại (VN), Sihanouk (Cambodia), Sivavang Vong (Laos). Nhật giới thiệu Trần Trọng Kim cho Bảo Đại làm Thủ tướng, nhưng chưa đầy một năm Trần Trọng Kim phải từ chức vì áp lực từ Việt Minh. Ngày 23/08/1945, Hồ Chí Minh gởi tối hậu thư đe dọa Bảo Đại phải từ bỏ ngôi Vua. Ngày 25/08/1945 Bảo Đại đành phải thoái vị.
Ngay sau đó, những người lãnh đạo then chốt của Việt Minh lộ bộ mặt thật; họ theo cộng sản Đệ Tam Quốc Tế do Stalin và Mao lãnh đạo; họ giết hàng loạt người cũng chống thực dân Pháp (ngay cả các người trong Việt Minh nhưng không theo Đệ Tam Quốc Tế). Qui mô nhất là đợt đấu tố đầu tiên trong cái gọi là “Cải cách ruộng đất” sau Tết 1953.
(Ngay sau khi Thế chiến II chấm dứt, De Gaule sai tướng Lelerc theo sau quân Anh tái chiếm Đông Dương!)
Những người chưa bị Việt Minh hại phải trốn vào vùng Pháp cai trị. Nhiều nhất là dịp Di Cư năm 1954, trong đó có gia đình nhạc sĩ họ Phạm, gồm Phạm Duy, Phạm Đình Chương… Họ chạy trốn ra từ chiến khu Việt Bắc.
Xin trở lại thập niên trước, các đảng yêu nước và nhân sĩ trong khu Pháp cai trị họp nhau lập chính phủ chống cộng. Chính phủ đầu tiên 27/05/1948 do Ông Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng. Chính phủ thứ nhì do sự nhờ họp trên chiến hạm Pháp Duguay Trouin ở Vịnh Hạ Long. Chính phủ thứ ba thành lập tại Đà Lạt 01/07/1949, mời cựu vua Bảo Đại làm Quốc Trưởng kiêm Thủ Tướng chính phủ. Sau mấy tháng, Quốc Trưởng Bảo Đại mời Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng, rồi sang Pháp sống ở tỉnh Cannes. (Quân Đội Việt Nam thành lập 30/12/1949, dưới sự điều khiển của Bộ Tư Lệnh Pháp).
Ngày 30/01/1950 các nước khối công sản công nhận chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh. Ngày 07/02/1950 các nước Âu và Mỹ kể cả Cambodia, Laos, Vatican… công nhận Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại.
Thủ tướng thứ sáu là Hoàng thân Bửu Lộc. Trong tình trạng sắp họp hội nghi Geneva, ông tỏ ra yếu kém nên chỉ mấy tháng sau, Bảo Đại (BĐ) mời ông Ngô Đình Diệm (NĐD) đến Cannes. (BĐ không còn là vua nữa; mà nhiều vị vẫn gọi ông là vua!)
Hồi ký của Bảo Đại Le Dragon d’Annam (bằng Pháp ngữ) Plon, Paris 1980 viết v/v mời Ông NĐD làm thủ tướng năm 1954.
(Bản dịch trích dẫn)
BĐ: “Mỗi lần thay đổi nội các, tôi đều nhờ đến Ông, và Ông đều từ chối. Hôm nay, tình thế vô cùng quan trọng, đất nước có thể bị Pháp và Cộng sản chia đôi; Ông phải đứng ra cầm đầu nội các.”
NĐD: “Tâu bệ hạ, không thể được. Tôi phải trình với bệ hạ rằng, sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đã quyết định rồi; tôi quyết định đi tu.”
BĐ: “Tôi tôn trọng ý định của Ông; nhưng hôm nay tôi kêu gọi lòng yêu nước của Ông, Ông không còn quyền từ khước nhiệm vụ phải cứu nước Việt Nam.”
BĐ viết tiếp: Sau mấy phút im lặng, Ông ta thưa.
NĐD: “Nếu vậy tôi xin nhận lãnh sứ mạng.”
BĐ viết tiếp: “Tôi bèn cầm tay Ông ta, kéo vào phòng gần đó, có một cây Thánh Giá…”
(Ghi Chú: BĐ theo Phật Giáo. Hoàng hậu Nam Phương là Catholic. Đây là phòng cầu nguyện của Hoàng hậu Nam Phương).
BĐ viết tiếp: “Đứng trước cây Thánh Giá, tôi nói với Ông ta: ‘Chúa của Ông đó. Ông hãy thề trước Chúa của Ông. Ông bảo vệ lãnh thổ đã trao phó cho Ông. Ông sẽ bảo vệ nó, chống lại công sản; và nếu cần, chống lại cả người Pháp.”
BĐ viết tiếp: “Ông trầm tư mấy phút, nhìn tôi, rồi quay về cây Thánh Giá, nói bằng gịng nghẹn ngào:
NĐD: “J’en fais le serment.” (Con xin nhận nhiệm vụ).”
(Ngưng trích)
Sau khi nhậm chức Thủ tướng ở Cannes, mười ngày sau 26/06/1954 Ông NĐD về Sài Gòn. Việt Nam lúc đó hỗn loạn tê liệt. Ngoài QĐVN, miền Nam Việt Nam lúc đó còn quân đội Bình Xuyên ở Chợ Lớn, giáo phái Cao Đài ở Tây Ninh, Phật giáo Hòa Hảo ở mấy tỉnh cực Nam.
Có tin từ hội nghị Geneva lọt ra là: “Việt Nam sẽ bị chia đôi…” nên người miền Bắc trước đó mấy tuần đã bắt đầu bỏ lại hết tài sản để Di Cư vào Nam. (Tác giả bài này đã cùng với ba mẹ và các em đáp máy bay vào Sai Gon trước hai tuần trước ngày 21/07/1954 Hiệp Đình Geneva tuyên bố chia đôi Việt Nam!) Tuy Hoa kỳ và Việt Nam Cộng Hòa của BĐ chống đối cắt chia, nhưng vẫn giúp Di Cư và xây dựng Miền Nam.
Trước ngày 17/12/1954, phần viện trợ quân sự cho VNCH của HK qua người Pháp ở VN. Nhưng từ ngày này, tất cả viện trợ HK đều đến thẳng cho VNCH. Do tình hình này Thủ tướng NĐD yêu Pháp phải rút quân chấm dứt 100 năm đô hộ. Pháp rút quân rất chậm trong nhiều đợt. (Đợt cuối cùng là đầu Tháng Tư năm 1956, Quân Đội Viễn Chinh Pháp mới rút hết 100 ngàn lính cuối cùng về Pháp).
De Gaulle rất bực tức HK và VNCH vì phá tan kế hoạch vĩ đại muốn lập Liên Hiệp Pháp (gồm VN, Marroc, Algery…) tương tự Liên Hiệp Anh (gồm Canada, Australia, New Zealand…) De Gaulle liền yêu cầu HK rút hết quân ra khỏi nước Pháp. (Đại sứ HK nói với De Gaulle là “HK sẽ rút quân về HK”; nhưng đồng thời hỏi De Galle là: “HK có phải đào xác các lính HK đã hy sinh trong cuộc đổ bộ lên Normandy cứu nước Pháp để đưa về HK không?”
Từ đó, Pháp phá ngầm VNCH. Ví dụ, trong chiến tranh VN phần II, Pháp thân thiện với Bắc Việt hơn VNCH Nam VN. Điển hình bà Ngô Bá Thành từ Pháp về quậy phá dữ dội miền Nam; Trong Biệt Đội Thiên Nga, cơ quan nữ phản gián điệp tìm tung tích công sản nằm vùng, nữ thiếu tá Nguyễn Thanh Thủy cho biết bà Ngô Bá Thành làm việc cho tình báo Pháp!
Từ khi chia đôi Việt Nam đến 15/08/1956, tình hình chính trị, và quân sự miến Nam rất phức tạp. Ngoài Quân Đội Việt Nam (QĐVN) còn có quân Bình Xuyên ở Chợ Lớn, giáo phái Cao Đài ở Tây Ninh, Phật giáo Hòa Hảo ở cực Nam. Một phần QĐVN và ba quân đội kia lập liên minh chống Ông Diệm.
Bình Xuyên (BX) ở Chợ Lớn kinh doanh tứ đổ tường (gái điếm hạng sang, sòng bài, thuốc phiện, tửu lầu) giàu chất ngất. Từ năm 1949, khi BĐ ở Pháp, hàng tháng BX vẫn gởi tiền rất hậu hỉ cho BĐ. Khi biết Ông Diệm là người đạo đức, họ quyết chống. Khi BĐ muốn cách chức Ông Diệm và định cho tướng Bảy Viễn BX thay thế, các việc sau đây đã xảy ra:
Các dảng chống cộng (Mặt Trận Quốc Gia VN, Đại Việt Duy Dân, VN Quốc Dân Đảng, Phong Trào Dân Chủ Tự Do, VN Phục Quốc) và chính trị gia nổi tiếng (Vũ Quốc Thông, Vũ Quốc Thúc, Lê Đình Chân, Ngô Gia Hy, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Tăng Nguyên, Trần văn Tuyên, Trần Đình Cát, Nguyễn Hữu, Trần Văn Lắm, Trần Chánh Thành, Trần Văn Hương, Trần Văn Đỗ…) lập kiến nghị lên Thủ Tướng Ngô Đình Diệm xin tổ chức trưng cầu dân ý truất phế BĐ. Cuộc trưng cầu ngày 29/04/1955 có tỉ số phiếu truất phế BĐ rất cao.
Ngày 26/11/1955, Ông Ngô Đình Diệm long trọng công bố Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa trước quốc dân và các phái đoàn ngoại giao tại Dinh Độc Lập.
Ông Diệm cũng đổi danh xưng Quân Đội Việt Nam thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Danh xưng này dùng cho tất cả những gì liên quan đến quân sự (Chi có Đài Phát Thanh Quân Đội không đổi tên!)
Sau các cuộc chiến trên thế giới chấm dứt, thường bên thắng thế đòi hỏi bên đối phương phải bồi thường chiến tranh. Nhưng VNCH tuyên bố rõ ràng là không đòi hỏi gì từ Pháp, chỉ muốn Pháp tiếp tục công nhận VNCH và cùng xây dựng một tương lai tươi sáng. Bộ Thông Tin Văn Hóa khuyến khích người Việt sáng tác thơ, văn, nhạc có nội dung này. Nhân tài Phạm Duy đã sáng tác nhạc phẩm Việt Nam Việt Nam rất thich hợp thời gian đó vì có rât nhiều câu với nội dung trên.
Quốc Ca khi hát chào cờ bắt buộc phải có nội dung thích hợp cả thời bình cũng như khi bị xâm lăng. Nếu khi bị kẻ xâm lăng đánh chiếm mà hát chào cờ có những câu yếu kém nhũn nhặn như:
Việt Nam không đòi xương máu,
Việt Nam kêu gọi thương nhau.
Thì dù ta có quỳ lạy kẻ xâm lăng, nó cũng chẳng thương mà đổi ý đâu! Ngược lại, nó còn cố đánh cướp cho mau nữa là đằng khác,!
Vậy trước khi muốn bài Việt Nam Việt Nam được chọn làm bài chào cờ thì xin đổi lời mấy câu ở trên. Mà đổi như thế nào? Xin xem bài hát có những chữ đậm và gạch dưới:
Việt Nam Việt Nam
Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời,
Việt Nam hai câu nói bên vành nôi,
Việt Nam nước tôi.
Việt Nam Việt Nam tên gọi là người,
Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời.
Việt Nam đây miền xinh tươi,
Việt Nam đem vào sông núi
Tự do công bình giữ vững muôn đời.
Việt Nam trau dồi văn hiến,
Việt Nam xây dựng văn minh,
Việt Nam chung xây đắp yên vui dài lâu.
Việt Nam trên đường tương lai,
Lửa thiêng soi toàn thế giới,
Việt Nam ta nguyện tranh đấu cho đời
Từ bi, nhân hậu, bác ái
Dựng xây Nước Việt xinh tươi
Việt Nam đây tiếng nói lưu danh tình người.
Việt Nam Việt Nam
Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời
Việt Nam Việt Nam muôn đời.
Sau khi đổi lời như trên, Việt Nam Việt Nam có nội dung xây dựng, ôn hòa, đạo đức tăng thêm, không có yếu hèn, cũng không khát máu hung hăng.
Tôi đã đọc bài “Quốc Ca Việt Nam qua Dòng Lịch Sử” trên YouTube. Bài đầu tiên là Việt Nam Minh Châu của Nhạc sĩ Hùng Lân. Bài này viết theo điệu Slow & Solemn (Chậm rãi & Trang Nghiêm). Người Việt chịu ảnh hưởng nhiều lãnh vực văn hóa của Pháp, nên nghĩ rằng cứ bài chào cờ là phải có điệu March (Quân hành) thật mạnh, nên một số thính giả phê bình bài của Hùng Lân là: “Nghe chán quá! Muốn buồn ngủ!”
Nhưng xem ra Quốc Ca của một số nước trên thế giới cũng không có điệu March mà đôi khi cũng là điệu Slow & Solemn. Ví dụ, Hoa Kỳ với bài The Star Spangled Banner mà tôi nghe trong các Nghi lễ khai mạc. Có ca sĩ hát thêm “Ah Ah Ah” ở vài chỗ cao hơn, dài hơn nốt nhạc chính của bài như… that Star Spangled Banner yet wave “Ah Ah Ah…”
Trên Internet mới xuất hiện bài Lá Cờ Truyền Thống:
https://youtube.com/watch?v=í1XtcS_ckEk&t=298s
Các ca sĩ khác hát bắt chước “Ah Ah Ah” thêm ở vài chỗ. Nếu không thêm “Ah Ah Ah” thì nghe cũng tương tự như bài Việt Nam Minh Châu của Việt Nam ta vậy thôi!
Để kết thúc bài này, người viết xin nhắc lại câu mở đầu: “Mục đích uy nhất bài này là viết lại giai đoạn lịch sử, không có mục đích nào khác.”
Trần Đức Hân
(Bài này đăng trong E book VB VNHN)
Trần Văn Giang (ghi lại)

